Truy cập

Hôm nay:
85
Hôm qua:
223
Tuần này:
85
Tháng này:
1660
Tất cả:
83622

Ý kiến thăm dò

 * Thành tựu  giai đoạn 2010 - 2015:

Trong công cuộc đổi mới Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Hoằng Phúc luôn phát huy truyền thống anh hùng, phấn dấu vươn lên tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đặc biệt trong 5 năm thực hiện NQ Đại hội Đảng bộ xã Hoằng Phúc nhiệm kỳ 2010-2015 được tổ chức thực hiện trong bối cảnh tình hình KT-CT có nhiều đổi mới đã tác động tích cực  đến tình hình CT- KT- XH. Thế và lực của đất nước từng bước được nâng cao trên trường quốc tế, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ngày một lớn mạnh.

I. Phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh.

1.Về phát triển kinh tế.

1.1. Kinh tế phát triển tương đối toàn diện, tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ thương mại, cơ sở hạ tầng được đầu tư tương đối hoàn thiện, các dự án thực hiện có hiệu quả

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2011 – 2015 18,52%, tăng 3,02 so với NQĐH và tăng 0,02% so với NQ giữa nhiệm kỳ; Trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp - thủy sản bình quân tăng 11,03%, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng 31,25%, các ngành dịch vụ thương mại tăng 22,32%. Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân giai đoạn 2011 – 2015 đạt 1.812 tấn, tăng 12 tấn so với KH Đại hội. Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, năm 2011 đạt 13,2 trđ, năm 2014 đạt 18,7 triệu đồng, đến năm 2015  đạt 21 triệu đồng, tăng 2,5 triệu đồng so với NQ giữa nhiệm kỳ.

1.2. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng trong công nghiệp - xây dựng, dịch vụ - thương mại tăng nhanh, nông nghiệp - thuỷ sản giảm; năm 2010: nông nghiệp - thuỷ sản chiếm 39%, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 32%, dịch vụ - thương mại chiếm 29%, đến năm 2015: tỷ lệ tương ứng là 28% - 40% - 32%, đạt so với kế hoạch Đại hội và NQ giữa nhiệm kỳ.

* Về sản xuất nông nghiệp:

 Cấp uỷ, chính quyền tập trung chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả vùng lúa thâm canh năng xuất, chất lượng, hiệu quả cao với 70,12 ha; chỉ đạo phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp tham gia xuất khẩu, xã đã quy hoạch và triển khai thực hiện 12 ha đất trồng rau màu có giá trị cao như hoa tươi, rau sạch, ớt xuất khẩu góp phần tăng thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác. Cơ cấu cây trồng mùa vụ chuyển dịch theo hướng tích cực, áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và đưa cơ giới vào sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả cao, đến nay toàn xã có 22 máy làm đất các loại, 03 máy gặp đập liên hoàn, 8 máy vò lúa và các loại máy phục vụ nông nghiệp khác. Tổng giá trị sản xuất trồng trọt đạt 15,7 tỷ đồng chiếm 60,7% tỷ trọng ngành nông nghiệp.

Chăn nuôi được coi trọng, làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh; chăn nuôi vẫn duy trì và phát triển, các mô hình chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại kết hợp phát huy có hiệu quả. Hiện nay toàn xã có 18 trang trại lớn, nhỏ; trong đó có 01 trang trại có quy mô 4 ha, đa số các trang trại hoạt động có hiệu quả; đàn trâu bò bình quân hàng năm 280 con, đàn lợn 1.200 con, đàn gia cầm: 12.000 con. Chăn nuôi cá được cải tạo, mở rộng diện tích ao nuôi; đầu tư thâm canh nuôi thả cá kết hợp theo hướng đa con. Sản lượng cá thịt hàng năm bình quân ước đạt 80 tấn/ năm, tăng 30 tấn so với kế hoạch; tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2015 đạt 10,14 tỷ đồng = 105,9% KH, chiếm 39,3% tỷ trọng ngành nông nghiệp.

* Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp – xây dựng: tiếp tục ổn định và phát triển, gắn với quy hoạch chung của huyện; nghề xây dựng được duy trì và phát triển. Xây dựng cơ bản tăng cao cả khu vực nhà nước và nhân dân. Giá trị sản xuất TTCN – XD đến năm 2015 ước đạt 36,9 tỷ đồng, tăng bình quân 31,25% năm và tăng 18,4% so với nghị quyết giữa nhiệm kỳ.

* Dịch vụ - thương mại: Các dịch vụ phục vụ nông nghiệp, vận tải phát triển, số lao động vào làm việc ở các công ty, doanh nghiệp tăng nhanh, hiện nay có 427 lao động và có mức thu nhập ổn định. Hoạt động kinh doanh, dịch vụ được duy trì, ổn định, hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng; chợ Bút sơn được đầu tư nâng cấp đảm bảo vệ sinh môi trường, tạo điều kiện cho dịch vụ, thương mại phát triển; năm 2015 giá trị ước đạt 29,52 tỷ đồng, tăng bình quân 22,32% năm và tăng 19,68% so với NQ giữa nhiệm kỳ.

* Công tác tài chính, tín dụng, quản lý đất đai môi trường: Công tác quản lý thu, chi ngân sách trên địa bàn được quan tâm chỉ đạo. Tổng thu ngân sách trên địa bàn xã đạt bình quân 5.689 triệu đồng, thu cố định tại xã đạt 601,74 triệu đồng = 75,22% so với NQ Đại hội và đạt 114% so với chỉ tiêu huyện giao; chi ngân sách được kiểm soát, đáp ứng nhiệm vụ chính trị, hoạt động của bộ máy và phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Tổng dư nợ các ngân hàng 7.720 triệu đồng, tăng 117,7% so với năm 2010, đáp ứng nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh - dịch vụ, giải quyết việc làm và hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn trong học tập...

Quản lý sử dụng đất đai, bảo vệ tài nguyên, môi trường tiếp tục được quan tâm. Hoàn thành công tác lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010-2020, cắm mốc chỉ giới hành lang giao thông, thuỷ lợi. Xây dựng và triển khai thực hiện đề án vệ sinh môi trường, thu gom rác thải xử lý tập trung, quy hoạch xây dựng nghĩa trang mới. Xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về đất đai, gây ô nhiễm môi trường và khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên.

1.3. Về xây dựng nông thôn mới:

Cấp ủy, chính quyền đã chủ động xây dựng kế hoạch huy động các nguồn lực đầu tư, từ nguồn vốn của nhà nước, doanh nghiệp và huy động đóng góp của nhân dân để đầu tư nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng đúng trọng tâm, trọng điểm. Trong 5 năm qua xã đã nâng cấp, làm mới thêm được 3,9 km đường giao thông nông thôn, 7,43 km giao thông nội đồng, xây dựng 4 cầu cống kênh mương cấp 1, 250m cầu máng, 1,5km kênh mương, nhà hiệu bộ, 04 phòng học, trụ sở làm việc, trung tâm văn hoá, trạm y tế, sân vận động. Đến nay đã cơ bản kiên cố hoá 100% đường giao thông nông thôn, 80% các trục đường giao thông nội đồng và hệ thống thuỷ lợi. Trụ sở, nhà văn hoá xã, 3 Trường học và Trạm y tế xã đều đạt chuẩn theo tiêu chí quốc gia; sân vận động, chợ Bút sơn, tuyến đường liên thôn từ Thọ Văn đi Hoằng Lọc, hệ thống điện sáng và nhà văn hoá ở 04 thôn được xây dựng chuẩn theo quy định. Tổng nguồn vốn huy động trong 5 năm (2011- 2015) là 95,7 tỷ đồng, trong đó: nguồn vốn của tỉnh 14,511tỷ đồng, ngân sách huyện 2,528 tỷ đồng, ngân sách xã  35,310 tỷ đồng, nhân dân đóng góp 43,351 tỷ đồng và hiến 3.127 m2 đất, 5.415 ngày công.

2. Văn hoá – xã hội ngày càng phát triển theo hướng chuẩn hoá, xã hội hoá, đời sống tinh thần nhân dân từng bước được nâng cao, chính sách an sinh xã hội được đảm bảo.

2.1.Văn hoá thông tin, thể dục thể thao có nhiều chuyển biến tích cực.

Các hoạt động văn hoá, thông tin đã bám sát nhiệm vụ kinh tế, chính trị của địa phương, tập trung tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các ngày kỷ niệm của quê hương, đất nước; thông tin kịp thời đến cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã.

Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hoá, huy động đóng góp của nhân dân xây dựng mới 1 nhà văn hoá và tu sửa nâng cấp 3 nhà văn hoá thôn đạt chuẩn; khai trương xây dựng đơn vị văn hoá. Đầu tư xây dựng khu trung tâm văn hoá, sân vận động đáp ứng nhu cầu TDTT, VHVN của nhân dân. Các di tích lịch sử văn hoá Nghè (Tế Độ), đền thờ Thái Bảo quận công Cao Tư (Hoằng Lọc) được quan tâm trùng tu, tôn tạo và hoạt động đúng quy định.

Các làng văn hoá tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động, thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, hàng năm có trên 85% gia đình được công nhận “gia đình văn hoá”. Các hoạt động TDTT, VHVN quần chúng tiếp tục được duy trì và hoạt động có nề nếp, phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư” ngày càng phát triển.

2.2. Về giáo dục và đào tạo: tập trung lãnh, chỉ đạo phát triển giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 05 – NQ/HU của BCH Đảng bộ huyện “về phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2012 – 2015 và định hướng đến năm 2020”. Sự nghiệp giáo dục, đào tạo của xã được giữ vững và phát triển, cơ sở vật chất trường lớp được tăng cường. Chất lượng dạy và học được nâng cao. Tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THCS hàng năm đạt >98%, học sinh khá, giỏi các trường luôn đạt >60%, Tỷ lệ học sinh đậu vào các trường đại học liên tục tăng. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đã đáp ứng cơ bản về số lượng và chất lượng. Ba trường học đều đạt chuẩn quốc gia, trong đó: trường Tiểu học đạt chuẩn mức độ 2 và xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục Mầm Non cho trẻ 5 tuổi. Trung tâm học tập cộng đồng được củng cố đi vào hoạt động có hiệu quả, nhiều năm liên tục được xếp loại A, đã góp phần nâng cao kiến thức về chính sách, pháp luật trình độ sản xuất trong nhân dân. Công tác xã hội hoá giáo dục được tăng cường và phát huy hiệu quả. Phong trào khuyến học, khuyến tài tiếp tục được đẩy mạnh, thu hút nhiều gia đình, dòng họ, tập thể, cá nhân tham gia.

2.3. Công tác Y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được coi trọng.

Công tác y tế được quan tâm, mạng lưới ytế từ xã đến thôn được củng cố, cơ sở vất chất, trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được đảm bảo. Chủ động phòng, chống dịch bệnh, đồng thời nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân. Vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm được chú trọng; các chương trình y tế Quốc gia thực hiện có hiệu quả.

 Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em, phụ nữ có thai, 100% số cháu trong độ tuổi được tiêm phòng đủ các loại vác xin, 100% bà mẹ có thai được khám định kỳ. Công tác DS – KHHGĐ được duy trì thường xuyên, chất lượng dân số từng bước được nâng cao.

2.4. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội luôn được đảm bảo; làm tốt công tác từ thiện nhân đạo:

Kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm 3,5%, đến hết năm 2014 còn 4,18%, số lao động được đào tạo nghề trong 5 năm qua là 427 lao động. Các chính sách an sinh xã hội được quan tâm giải quyết, thực hiện cấp phát kịp thời các chế độ đúng đối tượng, đúng quy định của Nhà nước, không để xảy ra tiêu cực. Phát động và hưởng ứng sâu rộng các phong trào “uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, các phong trào hoạt động vì người nghèo, từ thiện nhân đạo, chăm sóc, thăm hỏi người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn, tai nạn rủi ro...vv. Trong nhiệm kỳ qua đã vận động nhân dân ủng hộ, xây dựng các loại quỹ đạt 125 triệu đồng và thăm hỏi gần 200 lượt người có hoàn cảnh khó khăn, rủi ro.

3. Quốc phòng – anh ninh được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

- Nhiệm vụ quốc phòng – quân sự  địa phương được tập trung chỉ đạo thường xuyên như: công tác tuyển quân, huấn luyện DQ, DBĐV hàng năm đều hoàn thành theo đúng yêu cầu kế hoạch. Công tác phòng chống bão lụt, cứu hộ, cứu nạn, chính sách  hậu phương quân đội được đảm bảo. Đội ngũ cán bộ chỉ huy ở thôn được chú trọng nâng cao năng lực, trình độ. Lực lượng dân quân nòng cốt được xây dựng và hoạt động có hiệu quả. Nhiệm vụ xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ không ngừng được tăng cường, củng cố. Chất lượng hiệu quả giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng đúng yêu cầu, kế hoạch; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, không để đột xuất, bất ngờ xảy ra. Trong 5 năm đã có 29 thanh niên lên đường nhập ngũ hoàn thành và vượt KH huyện giao hàng năm.

- An ninh chính trị, TTAT xã hội được đảm bảo, các lĩnh vực an ninh tôn giáo, an ninh nông thôn được chú trọng. Phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ được củng cố  phát huy có hiệu quả, tạo môi trường ổn định cho kinh tế - văn hoá phát triển. Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị số 48, Kết luận số 86 của Bộ Chính trị, Mệnh lệnh số 01 của Giám đốc Công an Tỉnh, Chỉ thị số 12 của BTV Huyện uỷ về “Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới”. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ an ninh trật tự, an ninh xã hội. Công tác cải cách hành chính, hoạt động tư pháp được triển khai thực hiện đạt kết quả. 

Tình hình kinh tế xã hội